Mỗi giống lúa tạo ra mang một số phận riêng. Bởi thế, tác giả – PGS.TS Lê Vĩnh Thảo không muốn giống lúa nếp N97 và N98 bị gọi lẫn, dù cả hai đều là ‘đứa con tinh thần’ do ông chọn tạo.
“Thần tượng lúa nếp”
Tháng năm, trên cánh đồng khảo nghiệm của Trung tâm Chuyển giao Công nghệ và Khuyến nông (CETDAE – Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam), nhiều giống lúa bước vào chín và chuẩn bị thu hoạch. Hai thửa ruộng trồng giống nếp N97 và N98 nằm sát nhau, chỉ cách chưa đầy một thân người. Bằng mắt thường cũng phân biệt được, giống N98 cây cao hơn chừng 15cm, thân đứng và bông trĩu hạt hơn so với ruộng N97 bên cạnh.

PGS.TS Lê Vĩnh Thảo cúi xuống, ngắt một bông lúa vừa chắc xanh rồi nói N98 có dáng hạt bầu, tròn hơn. Theo hồ sơ lưu hành giống, N98 có chiều cao cây trung bình 110 – 115cm, thời gian sinh trưởng vụ xuân khoảng 135 – 145 ngày, vụ mùa 110 – 115 ngày, năng suất vụ xuân đạt khoảng 5,8 – 6,5 tấn/ha. Giống cũng có tỷ lệ hạt chắc và số bông hữu hiệu cao hơn, phù hợp với điều kiện thâm canh hơn so với N97.
Nhưng rồi ông cười nhẹ: “Ra khỏi ruộng thì khó nhận biết sự khác nhau lắm”. Câu nói như buột miệng nhưng chất chứa băn khoăn kéo dài của một chuyên gia chọn tạo giống. Trên cánh đồng, N97 và N98 khác hẳn nhau về hình thái, thời vụ và quy trình canh tác, nhưng khi lưu thông trên thị trường, đóng bao, vận chuyển qua nhiều khâu trung gian, ranh giới ấy đôi khi mờ đến mức ngay cả người trong nghề cũng khó phân biệt.
Sự giống nhau ấy không phải ngẫu nhiên bởi N97 được tạo ra từ tổ hợp N87/Nếp 415, còn N98 có nguồn gốc từ dòng phân ly dạng cao cây của N87. Năm 1997, sau gần một thập niên chọn tạo, PGS.TS Lê Vĩnh Thảo hoàn thiện dòng thuần N97. Đến 2004, giống bắt đầu được đưa vào sản xuất đại trà và nhanh chóng tạo tiếng vang từ miền Trung đến miền núi phía Bắc.
Thời điểm đó, nhiều giống nếp truyền thống cho năng suất quanh mức 5 tấn/ha, thời gian sinh trưởng dài. N97 lập tức được chào đón vì ngắn ngày, dễ chăm sóc, phù hợp cả những vùng ít điều kiện thâm canh.

PGS.TS Lê Vĩnh Thảo (thứ 2 từ phải sang) bên cán bộ Trung tâm Chuyển giao Công nghệ và Khuyến nông. Ảnh: Bảo Thắng.
Bước qua giai đoạn khảo nghiệm, N97 trở thành giống nếp thương mại phổ biến. Trong các mô hình liên kết sản xuất tại Quảng Nam (cũ), nông dân ghi nhận lợi nhuận cao hơn đáng kể, có nơi đến 50 triệu đồng/ha so với giống cũ. Để giữ đúng chất lượng, các ruộng sản xuất còn tổ chức khử lẫn nhiều lần ngoài đồng nhằm tránh lẫn giống từ đầu vụ. Chính những quy trình nghiêm ngặt ấy cho thấy uy tín của một giống lúa thực chất được giữ từ đồng ruộng chứ không chỉ trên bao bì khi bán ra thị trường.
Nhưng với tác giả của gần 30 giống lúa đã được công nhận, cải tiến là vòng quay không có điểm kết. Giữ lại độ dẻo và khả năng thích nghi của N97, nguyên lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa thuần (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm) tiếp tục phát triển N98 theo hướng năng suất cao hơn, chống chịu bạc lá, đạo ôn tốt hơn.
Trên cả ruộng khảo nghiệm lẫn sản xuất ngoài thực tế, CETDAE – đơn vị được bảo hộ giống lúa N98 đến năm 2034 đã thống kê và cho thấy năng suất của N98 có thể hơn N97 từ 10 – 15%, thậm chí đạt 8 tấn/ha trên những chân ruộng thuận lợi (Điện Biên, Thanh Hóa, Quảng Nam).
Với PGS.TS Lê Vĩnh Thảo, N98 không đơn thuần là một giống kế tục, mà là bước cải tiến từ nền vật liệu của N97 sau nhiều năm theo dõi thực tiễn sản xuất. Nếu N97 nổi bật ở ưu thế ngắn ngày, N98 được định hướng cho sản xuất thâm canh hơn, thời gian sinh trưởng dài hơn vài ngày nhưng đổi lại là tiềm năng năng suất cao và ổn định hơn.

PGS.TS Lê Vĩnh Thảo – tác giả của hai giống nếp N97 và N98 cùng hơn 20 giống lúa khác. Ảnh: Bảo Thắng.
Đầu những năm 2010, N98 được nhiều địa phương mở rộng diện tích rất nhanh nhờ năng suất và chất lượng gạo. Tại Hà Tĩnh, giống này được nông dân gọi vui là “thần tượng lúa nếp” vì vừa cho năng suất khá, vừa bán được giá nhờ cơm dẻo và thơm ngon.
Ở Lai Châu, mô hình sản xuất N98 trên khoảng 20ha với hơn 100 hộ dân tham gia vào năm ngoái từng ghi nhận năng suất khoảng 6 tấn/ha. Trừ chi phí, nhiều hộ thu nhập vượt 30 triệu đồng/ha – con số có thể nói là trong mơ với người dân nơi đây, chưa kể ưu điểm chịu lạnh, chống sâu bệnh tốt, chất lượng gạo vượt trội.
Nhưng chính sự kế thừa về đặc tính khiến hai giống dễ bị gọi nhầm tên. Ông Thảo còn nhớ như in chuyến đi thực tế tại Bắc Giang (cũ) vào khoảng năm 2015. Nhiều nông dân nói chắc nịch đang trồng N97, thậm chí cho chuyên gia xem bao bì lúa giống, nhưng tính kỹ lịch thời vụ thì thời điểm thu hoạch lại chậm 3 – 5 ngày so với đặc tính vốn có. “Tôi nhìn là biết có ruộng không còn thuần N97 nữa”, ông tâm sự.
Với người ngoài nghề, chênh lệch vài ngày có thể không đáng. Nhưng trong sản xuất nông nghiệp, đó có thể là khoảng cách giữa kịp và trễ vụ. Trớ trêu hơn, ngay cả “cha đẻ” của N97 và N98 giờ cũng không thể nói chính xác mỗi giống đang được gieo cấy trên diện tích bao nhiêu. Ông nhiều lần được báo rằng N98 nằm trong nhóm nếp được trồng nhiều nhất. Mừng vì “đứa con tinh thần” được nông dân chọn lựa, nhưng niềm vui lại đi kèm trăn trở, liệu đó có thực là N98 hay là một nhầm lẫn nào khác? Và “danh tính” của một giống lúa đang thực sự được giữ bằng cách nào?
Dễ mất tên khi ra thị trường
N97, N98 cùng có thể tạo “kỳ tích” và phải chăng vì vậy mà sự nhầm lẫn giữa chúng trở nên phức tạp. N97 là giống được lưu hành tự do, còn N98 thuộc diện được bảo hộ bản quyền, trong nhiều trường hợp nông dân sẽ thu sản lượng và hiệu quả kinh tế cao hơn N97.

Cây lúa nếp N98 cao hơn N97 khoảng 15cm.
Nhưng theo PGS.TS Lê Vĩnh Thảo, câu chuyện của hai giống nếp không còn dừng ở năng suất. N97 ra đời trước, vốn được chọn tạo cho những vùng cần thời vụ ngắn. Trong khi N98 dài ngày hơn và phù hợp với điều kiện thâm canh cao hơn. Nếu vẫn chăm sóc theo kiểu của N97 thì việc trồng N98 chưa chắc đã hiệu quả.
Một giống lúa có thể mất 20 năm hoặc hơn để chọn tạo, khảo nghiệm và đưa vào sản xuất đại trà. Nhưng khi rời khỏi cánh đồng, “danh tính” của nó đôi khi lại phụ thuộc vào dòng chữ in trên bao bì. Đáng lo hơn, động lực cho nghiên cứu giống cây trồng sẽ bị ảnh hưởng. Nếu giống mới vừa ra đời đã nhanh chóng hòa lẫn vào thị trường dưới một cái tên khác, người làm giống rất khó theo đuổi những chương trình dài hạn.
Đó còn là sự mất mát tưởng như vô hình từ những lăn lộn với đồng ruộng. Ở Thọ Xuân (Thanh Hóa), ông Thảo từng bất ngờ khi thấy N97 sinh trưởng tốt cả trên chân đất thấp – nơi nhiều giống nếp khác thường dễ đổ hoặc kém ổn định.
Ông được nghe một nông dân hồ hởi kể về giống nếp “dẻo, dễ làm, bán được giá”, rồi nói muốn cảm ơn người tạo ra nó mà không hề biết người đứng trước mặt chính là tác giả giống lúa ấy. Ông bảo, không có sự công nhận nào rõ ràng hơn những câu chuyện như vậy.
Hơn ba thập niên gắn bó với công tác chọn tạo lúa thuần, PGS.TS Lê Vĩnh Thảo cùng cộng sự đã giới thiệu ra sản xuất hàng chục giống lúa. Với ông, mỗi giống không chỉ là kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mà còn là thành quả tích lũy từ hàng nghìn lượt thí nghiệm ngoài đồng ruộng, qua nhiều mùa vụ và điều kiện canh tác khác nhau.
Mỗi giống lúa khi được tạo ra đã mang một số phận riêng. Bởi thế, ông không muốn N97 và N98 bị gọi lẫn, dù cả hai đều là “đứa con tinh thần” do chính ông chọn tạo từ tổ hợp Yunshin nhập nội năm 1987. Nếu tên giống nhập nhằng, điều mất đi không chỉ là câu chuyện bản quyền mà còn là sự chính xác của cả một hệ thống nghiên cứu, thống kê và phát triển.

Hai ruộng trồng lúa N97 và N98 đặt cạnh nhau tại CETDAE. Ảnh: Bảo Thắng.
Đã nghỉ hưu ngót 15 năm nhưng người ta vẫn thấy bóng dáng cao, gầy của PGS.TS Lê Vĩnh Thảo bên những thửa ruộng khảo nghiệm của CETDAE mỗi mùa lúa trỗ. Trên ruộng đối chứng N97 và N98, ông vẫn dễ dàng chỉ ra khác biệt chỉ sau vài phút. Cây nào cao hơn, giống nào đứng cây hơn, ruộng nào sẽ thu hoạch sớm hơn vài ngày.
Nhưng ông cũng hiểu rằng khi khoa học đi vào sản xuất đại trà, thứ khó giữ nhất đôi khi không phải năng suất, chất lượng mà là “danh tính” của chính những giống mình tạo ra.
Sự nhập nhằng về “danh tính” càng đáng lo khi lĩnh vực giống không còn là sân chơi của riêng các viện, trường và trung tâm nghiên cứu công lập. Từ năm 2010, ngày càng nhiều doanh nghiệp tư nhân đầu tư bài bản từ chọn tạo, khảo nghiệm đến chế biến, đóng gói và thương mại hóa. Giống cây trồng đã trở thành một lĩnh vực đầu tư dài hạn, nơi doanh nghiệp phải bỏ hàng chục tỷ đồng cho một công trình chuyên sâu.
Theo thống kê của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Việt Nam hiện có khoảng 1.000 giống cây trồng được cấp bằng bảo hộ. Nhiều giống mới năng suất cao, chất lượng tốt liên tục được đưa vào sản xuất, giúp mở rộng lựa chọn cho nông dân và nâng giá trị nông sản. Nhưng cũng vì vậy, câu chuyện giữ đúng tên gọi ngoài thị trường càng trở nên quan trọng.
Bảo Thắng – Nông nghiệp & Môi trường
Trung tâm chuyển giao công nghệ và khuyến nông
Ghi rõ nguồn "cetdae.com.vn"